Chủ Nhật , 22 Tháng Bảy 2018
Tin mới
Bạn đang xem: Home » Tủ sách » Kinh tế - Chính trị » Chương sở hữu trí tuệ trong Hiệp định TPP bằng tiếng Việt – Phần 2

Chương sở hữu trí tuệ trong Hiệp định TPP bằng tiếng Việt – Phần 2

Điều QQ.A.8: Thỏa thuận quốc tế

  1. Mỗi Bên khẳng định rằng mình đã phê chuẩn hoặc tham gia các hiệp định sau:

(a) Hiệp ước Hợp tác về bằng sáng chế (1979);

(b) Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1967); và

(c) Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (1971).

  1. Mỗi Bên phải phê chuẩn hoặc tham gia vào từng thỏa thuận sau đây (nếu chưa tham gia) trước thời điểm Hiệp định này có hiệu lực đối với các Bên liên quan:

(a) Nghị định thư liên quan đến Hiệp định Madrid về đăng ký nhãn hiệu quốc tế (1989);

(b) Hiệp ước Budapest về Công nhận quốc tế về việc nộp lưu chủng vi sinh nhằm phục vụ thủ tục về bằng sáng chế (1977), sửa đổi năm 1980;

(c) Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (1991);

(d) Hiệp ước Singapore về Luật Thương hiệu (2006) ;

(e) Hiệp ước WIPO về quyền tác giả (1996); và

(f) Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (1996).

Điều QQ.A.9: Chính sách giữa các nước

  1. Đối với tất cả các loại tài sản trí tuệ trong chương này,  quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của một Bên áp dụng đối với công dân của các Bên khác không được kém thuận lợi hơn quy định áp dụng đối với công dân của nước mình.
  2. Tuy nhiên, đối với việc sử dụng lại của bản ghi âm bằng các thiết bị truyền thông analog, phát thanh miễn phí, và các hình thức thông tin không tương tác khác đến công chúng, một Bên có thể hạn chế quyền của người biểu diễn và nhà sản xuất của một Bên khác trong phạm vi các quyền mà pháp luật của Bên kia cho phép đối với công dân nước mình.
  3. Một Bên có thể không thực hiện quy định tại khoản 1 liên quan đến thủ tục tư pháp và hành chính của mình, trong đó có yêu cầu công dân của Bên kia chỉ định một địa chỉ giao dịch trong lãnh thổ của mình, hoặc chỉ định một đại lý trong lãnh thổ của mình, với điều kiện:

(a) việc không tuân thủ trên cần thiết để bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và các quy định mà không trái với Chương này; và

(b) nếu không làm vậy thì sẽ tạo nên một sự hạn chế trá hình đối với thương mại.

  1. Khoản 1 không áp dụng cho các thủ tục quy định trong các hiệp định đa phương được ký kết dưới sự bảo trợ của WIPO liên quan đến việc mua lại hoặc duy trì quyền sở hữu trí tuệ.

Điều QQ.A.10: Sự minh bạch

  1. Nhằm thực hiện Điều ZZ.2 (Xuất bản) và QQ.H.3.1 (Thực thi quyền sở hữu trí tuệ), mỗi Bên phải nỗ lực để đăng tải luật, quy định, thủ tục và quy định hành chính áp dụng chung liên quan đến bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của mình trên Internet.
  2. Mỗi Bên, tùy thuộc vào pháp luật của mình, phải nỗ lực đăng tải các thông tin được công bố về thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng, bằng sáng chế và quyền đối với giống cây trồng,trên Internet.
  3. Mỗi Bên, tùy thuộc vào pháp luật của mình, phải nỗ lực đăng tải các thông tin được công bố về thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng, bằng sáng chế và quyền đối với giống cây trồng trên Internet một cách đầy đủ nhằm giúp công chúng quen với việc đăng ký hoặc các quyền được trao.

Điều QQ.A.10bis: Áp dụng Hiệp định đối với các vấn đề hiện có và hành vi trước đây

  1. Trừ trường hợp có quy định khác, bao gồm cả trong Điều QQ.G.8 (Berne 18/TRIPS 14.6), Chương này làm phát sinh các nghĩa vụ đối với tất cả các vấn đề hiện có tại thời điểm có hiệu lực của Hiệp định này được bảo hộ trong lãnh thổ của Bên yêu cầu bảo hộ vào cùng thời điểm, hoặc để đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ theo Chương này.
  2. Trừ trường hợp quy định tại Điều QQ.G.8 (Berne 18/TRIPS 14.6), một Bên không bị yêu cầu để khôi phục việc bảo hộ đối với các vấn đề thuộc khu vựng công trong lãnh thổ của mình kể từ ngày có hiệu lực của Hiệp định này.
  3. Chương này không làm phát sinh các nghĩa vụ đối với các hành vi xảy ra trước ngày có hiệu lực của Hiệp định này.

Điều QQ.A.11: Làm dụng quyền SHTT

Hiệp định này không có điều khoản nào không cho phép một Bên xác định việc có sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ hay không hoặc dưới điều kiện nào theo hệ thống pháp luật của mình.

Mục B: Hợp tác

Điều QQ.B.1: Đầu mối liên lạc cho hợp tác

Nhằm thực hiện TT.3 (Đầu mối liên lạc cho hợp tác và xây dựng năng lực}, mỗi Bên có thể chỉ định một hoặc nhiều đầu mối liên lạc cho các mục đích hợp tác trong phần này.

Điều QQ.B.2: Hoạt động hợp tác và các bước chủ động

Các Bên nỗ lực hợp tác trong các vấn đề quy định tại chương này, chẳng hạn thông qua phối hợp, đào tạo và trao đổi thông tin giữa các cơ quan sở hữu trí tuệ của các bên hoặc các tổ chức khác theo quyết định của mỗi Bên. Phạm vi của hợp tác có thể bao gồm:

(a) xây dựng chính sách sở hữu trí tuệ trong nước và quốc tế;

(b) hệ thống quản lý và đăng ký sở hữu trí tuệ;

(c) Giáo dục và nâng cao nhận thức liên quan đến sở hữu trí tuệ;

(d) các vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến:

(i) các doanh nghiệp vừa và nhỏ;

(ii) các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới; và

(iii) tạo ra, chuyển giao, và phổ biến công nghệ.

(e) các chính sách liên quan đến việc sử dụng tài sản trí tuệ để nghiên cứu, đổi mới và tăng trưởng kinh tế;

(f) thực hiện các hiệp định sở hữu trí tuệ đa phương như những hiệp định được ký kết hoặc ban hành dưới sự bảo trợ của WIPO; và

(g) hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển.

Điều QQ.B.3: Hợp tác về bằng sáng chế/chia sẻ công việc

  1. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả cho hệ thống đăng ký bằng sáng chế của mình và đơn giản hóa thủ tục và quy trình cấp bằng sáng chế vì lợi ích của tất cả người dùng và công chúng.
  2. Nhằm thực hiện khoản 1, các Bên sẽ nỗ lực thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan cấp bằng sáng chế của mình để tạo thuận lợi cho việc chia sẻ và sử dụng kết quả tìm kiếm và kiểm tra của các bên khác. Điều này có thể bao gồm:

(a) công bố kết quả tìm kiếm và kiểm tra cho cơ quan cấp bằng sáng chế của các bên khác; và

(b) trao đổi các thông tin về hệ thống đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn chất lượng liên quan để kiểm tra bằng sáng chế.

  1. Để giảm bớt sự phức tạp và chi phí xin cấp bằng sáng chế, các Bên sẽ nỗ lực hợp tác để giảm bớt sự khác biệt trong các thủ tục và quy trình của cơ quan cấp bằng sáng chế của mình.
  2. Các Bên nhận ra tầm quan trọng của việc xem xét kỹ lưỡng việc phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước về Luật sáng chế; hoặc việc áp dụng hoặc duy trì các thủ tục tiêu chuẩn phù hợp với mục tiêu của Hiệp ước Luật sáng chế.

Điều QQ.B.x: Khu vực công cộng

  1. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của một khu vực công cộng phong phú và dễ tiếp cận.
  2. Các bên cũng thừa nhận tầm quan trọng của thông tin, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu về quyền sở hữu trí tuệ đã đăng ký có thể được truy cập công khai nhằm hỗ trợ việc xác định các vấn đề thuộc khu vực công.

Điều QQ.B.4: Hợp tác theo yêu cầu

Hoạt động hợp tác và các bước chủ động được thực hiện theo Chương này phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên, và theo yêu cầu và các điều khoản thoả thuận giữa các bên liên quan.

Điều QQ.B.xx Hợp tác trong các lĩnh vực kiến thức truyền thống

XX.1. Các Bên thừa nhận sự liên quan của hệ thống sở hữu trí tuệ và kiến thức truyền thống gắn với các nguồn tài nguyên di truyền với nhau, khi mà kiến thức truyền thống liên quan đến các hệ thống sở hữu trí tuệ.

XX.2. Các Bên sẽ nỗ lực hợp tác thông qua các cơ quan sở hữu trí tuệ hoặc các tổ chức khác có liên quan để nâng cao sự hiểu biết về các vấn đề kết nối với tri thức truyền thống gắn với các nguồn tài nguyên di truyền, và các nguồn tài nguyên di truyền.

XX.3. Các Bên sẽ nỗ lực để thực hiện việc kiểm tra chất lượng bằng sáng chế. Điều này có thể bao gồm:

(a) khi xác định công nghệ đã có từ trước (prior art), thông tin sẵn có trong tài liệu liên quan đến kiến thức truyền thống gắn với các nguồn tài nguyên di truyền có thể được xem xét;

(b) một cơ hội cho các bên thứ ba trích dẫn bằng văn bản cho cơ quan kiểm tra có thẩm quyền các prior art mà có thể được bằng sáng chế, bao gồm các prior art trước đây liên quan đến kiến thức truyền thống gắn với các nguồn tài nguyên di truyền;

(c)việc sử dụng các cơ sở dữ liệu hoặc thư viện số có chứa kiến thức truyền thống gắn với các nguồn tài nguyên di truyền khi thích hợp và phù hợp; và

(d) hợp tác trong việc đào tạo giám định viên bằng sáng chế trong việc xem xét đơn xin cấp bằng sáng chế liên quan đến kiến thức truyền thống gắn với các nguồn tài nguyên di truyền.

Mục C: Thương hiệu

Điều QQ.C.1: Các loại dấu hiệu được xem như thương hiệu

Không Bên nào được quy định rằng dấu hiệu phải được nhìn thấy bằng mắt như một điều kiện để đăng ký, cũng không được từ chối việc đăng ký thương hiệu là một âm thanh đơn thuần. Ngoài ra, mỗi Bên phải nỗ lực để cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi hương. Một Bên có thể đòi hỏi một mô tả ngắn gọn và chính xác hoặc đại diện đồ họa của thương hiệu, hoặc cả hai nếu có thể.

Điều QQ.C.2: Thương hiệu chung và thương hiệu chứng nhận

Mỗi Bên quy định rằng thương hiệu bao gồm thương hiệu tập thể và thương hiệu chứng nhận. Một Bên không bắt buộc phải có quy định riêng về thương hiệu chứng nhận hệ thống pháp luật của mình, miễn là các thương hiệu đó được bảo hộ. Mỗi Bên quy định rằng các dấu hiệu có thể đượ xem như chỉ dẫn địa lý có thể được bảo hộ trong hệ thống thương hiệu của mình.

Điều QQ.C.3: Dấu hiệu giống hệt hoặc tương tự

Mỗi Bên sẽ ban hành quy định rằng người sở hữu của một thương hiệu được đăng ký có quyền ngăn không cho các bên thứ ba sử dụng các dấu hiệu giống hệt hoặc tương tự trong quá trình thương mại nếu không được phép của chủ sở hữu (bao gồm cả chỉ dẫn địa lý tiếp theo ,) cho hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan đến những hàng hóa hoặc dịch vụ có đăng ký thương hiệu của chủ sở hữu, nếu việc sử dụng chúng có khả năng gây ra nhầm lẫn. Trong trường hợp sử dụng cùng một dấu hiệu cho hàng hóa, dịch vụ giống hết nhau thì khả năng nhầm lẫn sẽ được giả định.

Điều QQ.C.4: Trường hợp ngoại lệ

Mỗi Bên có thể cho phép một số trường hợp ngoại lệ đối với các quyền từ thương hiệu, chẳng hạn như việc sử dụng các thuật ngữ mô tả, với điều kiện những ngoại lệ đó có xét đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thương hiệu và của các bên thứ ba.

Điều QQ.C.5: Thương hiệu nổi tiếng

  1. Không Bên nào được áp đặt điều kiện để một thương hiệu được xác định là nổi tiếng là nó phải được đăng ký trong nước đó hay trong một nước nào khác, phải có trong một danh sách các thương hiệu nổi tiếng, hoặc được công nhận trước là một thương hiệu nổi tiếng.
  2.  Điều 6bis của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1967) và những văn bản sửa đổi được áp dụng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ không phải là giống hệt hoặc tương tự với những hàng hóa dịch vụ được nhận diện bởi một nhãn hiệu nổi tiếng,  dù đã đăng ký hay chưa, miễn là việc sử dụng thương hiệu đó trong mối liên hệ với những hàng hóa hoặc dịch vụ đó sẽ chỉ ra sự kết nối giữa những hàng hóa, dịch vụ này và chủ sở hữu của thương hiệu, và với điều kiện là quyền lợi của chủ sở hữu thương hiệu có khả năng bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng đó.
  3. Mỗi Bên theừa nhận tầm quan trọng của Khuyến nghị chung về quy định về bảo hộ thương hiệu nổi tiếng (1999) được thông qua bởi Hội đồng Liên hiệp Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và Đại hội đồng WIPO.
  4. Mỗi Bên sẽ ban hành quy định về các biện pháp thích hợp để từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký và cấm việc sử dụng thương hiệu giống hệt hoặc tương tự với thương hiệu nổi tiếng cho hàng hoá hoặc dịch vụ giống hệt hoặc tương tự nếu việc sử dụng thương hiệu đó có khả năng gây nhầm lẫn với một thương hiệu đã nổi tiếng từ trước. Một Bên cũng có thể cung cấp các biện pháp đó cùng với các biện pháp khác trong các trường hợp thương hiệu tiếp theo dễ bị gian lận.

Điều QQ.C.6: Kiểm tra, phản đối và hủy/các vấn đề về thủ tục

Mỗi Bên sẽ thiết lập một hệ thống cho việc kiểm tra và đăng ký các thương hiệu bao gồm (nhưng không giới hạn) các vấn đề sau:

(a) cung cấp cho người nộp đơn thông báo bằng văn bản hoặc thông báo điện tử về lý do từ chối đăng ký thương hiệu;

(b) cho người nộp đơn cơ hội phản hồi các thông báo từ cơ quan có thẩm quyền, khiếu nại quyết định từ chối lần đầu, hoặc khiếu nại quyết định từ chối cuối cùng theo thủ tục tố tụng;

(c) cho cơ hội để khiếu nại việc đăng ký một thương hiệu hoặc đề nghị hủy bỏ  một thương hiệu; và

(d) đòi hỏi các quyết định hành chính trong thủ tục khiếu nại và huỷ bỏ được giải thích bằng văn bản. Quyết định bằng văn bản có thể được cung cấp dưới dạng điện tử.

Bình luận

About Smart Edu

Đã hơn 10 năm vừa làm việc với nghề lập trình vừa nghiên cứu về E-learning, tôi luôn mong muốn xây dựng được một cộng đồng mà ở đó, mỗi thành viên có thể giúp nhau trong việc học tập của bản thân trong suốt cuộc đời cũng như của con cái và gia đình mình, từ đó góp phần đưa xã hội Việt Nam ngày càng văn minh và tốt đẹp hơn. Small meaningful Increasing goal.

Comments are closed.

Dichvu25h - Order và Ship hàng US
Lên đầu trang

Bản tin SEDU - E-learning Việt Nam

Đăng ký nhận bản tin E-learning ngay khi có cập nhật mới nhất